Thứ Năm, 4 tháng 12, 2014

THẰNG KHÙNG (Thanh Ngang Trên Thập Tự Giá)


THẰNG KHÙNG(Thanh Ngang Trên Thập Tự Giá)








( THẰNG KHÙNG trong tù này là Cha Chính Vinh, tức là Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH (1912-1971), của Nhà thờ lớn Hà Nội. Bài viết của Phùng Quán đã kể lại chuyện thật những năm, những ngày cuối trong ngục tù của Ngài. Phùng Quán viết lại theo lời kể của nhà thơ Nguyễn Tuân - không phải là nhà văn có cùng tên - khi cùng ở trong tù)

"… Anh ta vào trại trước mình khá lâu, bị trừng phạt vì tội gì, mình không rõ. Người thì bảo anh ta phạm tội hình sự, người lại bảo mắc tội chính trị. Nhưng cả hai tội mình đều thấy khó tin. Anh ta không có dáng dấp của kẻ cướp bóc, sát nhân, và cũng không có phong độ của người làm chính trị. Bộ dạng anh ta ngu ngơ, dở dại dở khùng. Mình có cảm giác anh ta là một khúc củi rều, do một trận lũ cuốn từ một xó rừng nào về, trôi ngang qua trại, bị vướng vào hàng rào của trại rồi mắc kẹt luôn ở đó. Nhìn anh ta, rất khó đoán tuổi, có thể ba mươi, mà cũng có thể năm mươi. Gương mặt anh ta gầy choắt, rúm ró, tàn tạ, như một cái bị cói rách, lăn lóc ở các đống rác. Người anh ta cao lòng khòng, tay chân thẳng đuồn đuỗn, đen cháy, chỉ toàn da, gân với xương.

Trên người, tứ thời một mớ giẻ rách thay cho quần áo. Lúc đầu mình cứ tưởng anh ta bị câm vì suốt ngày ít khi thấy anh ta mở miệng dù là chỉ để nhếch mép cười. Thật ra anh ta chỉ là người quá ít lời. Gặp ai trong trại, cả cán bộ quản giáo lẫn phạm nhân, anh ta đều cúi chào cung kính, nhưng không chuyện trò với bất cứ ai. Nhưng không hiểu sao, ở con người anh ta có một cái gì đó làm mình đặc biệt chú ý, cứ muốn làm quen… Nhiều lần mình định bắt chuyện, nhưng anh ta nhìn mình với ánh mắt rất lạ, rồi lảng tránh sau khi đã cúi chào cung kính.

Hầu như tất cả các trại viên, kể cả những tay hung dữ nhất, cũng đều thương anh ta. Những trại viên được gia đình tiếp tế người để dành cho anh ta viên kẹo, miếng bánh, người cho điếu thuốc.

Ở trại, anh ta có một đặc quyền không ai tranh được, và cũng không ai muốn tranh. Đó là khâm liệm tù chết. Mỗi lần có tù chết, giám thị trại đều cho gọi "thằng khùng" (tên họ đặt cho anh ta) và giao cho việc khâm liệm. Với bất cứ trại viên chết nào, kể cả những trại viên đã từng đánh đập anh ta, anh ta đều khâm liệm chu đáo giống nhau. Anh ta nấu nước lá rừng, tắm rửa cho người chết, kỳ cọ ghét trên cái cơ thể lạnh ngắt cứng queo, với hai bàn tay của người mẹ tắm rửa cho đứa con nhỏ.

Lúc tắm rửa, kỳ cọ, miệng anh ta cứ mấp máy nói cái gì đó không ai nghe rõ. Anh ta rút trong túi áo một mẩu lược gãy, chải tóc cho người chết, nếu người chết có tóc. Anh ta chọn bộ áo quần lành lặn nhất của người tù, mặc vào rồi nhẹ nhàng nâng xác đặt vào áo quan được đóng bằng gỗ tạp sơ sài.

Anh ta cuộn những bộ áo quần khác thành cái gói vuông vắn, đặt làm gối cho người chết. Nếu người tù không có áo xống gì, anh ta đẽo gọt một khúc cây làm gối. Khi đã hoàn tất những việc trên, anh ta quỳ xuống bên áo quan, cúi hôn lên trán người tù chết, và bật khóc.

Anh ta khóc đau đớn và thống thiết đến nỗi mọi người đều có cảm giác người nằm trong áo quan là anh em máu mủ ruột thịt của anh ta. Với bất cứ người tù nào anh ta cũng khóc như vậy. Một lần giám thị trại gọi anh ta lên:

- Thằng tù chết ấy là cái gì với mày mà mày khóc như cha chết vậy?

Anh ta chấp tay khúm núm thưa:

- Thưa cán bộ, tôi khóc vờ ấy mà. Người chết mà không có tiếng khóc tống tiễn thì vong hồn cứ lẩn quẩn trong trại. Có thể nó tìm cách làm hại cán bộ. Lúc hắn còn sống, cán bộ có thể trừng trị hắn, nhưng đây là vong hồn hắn, cán bộ muốn xích cổ, cũng không xích được.

Thằng khùng nói có lý. Giám thị trại mặc, cho nó muốn khóc bao nhiêu thì khóc. Nhưng mình không tin là anh ta khóc vờ. Lúc khóc, cả gương mặt vàng úa, nhăn nhúm của anh ta chan hòa nước mắt. Cả thân hình gầy guộc của anh ta run rẩy. Mình có cảm giác cả cái mớ giẻ rách khoác trên người anh ta cũng khóc… Trong tiếng khóc và nước mắt của anh ta chan chứa một niềm thương xót khôn tả. Nghe anh ta khóc, cả những trại viên khét tiếng lỳ lợm, chai sạn, "đầu chày, đít thớt, mặt bù loong" cũng phải rơm rớm nước mắt. Chỉ có nỗi đau đớn chân thật mới có khả năng xuyên thẳng vào trái tim người. Mình thường nghĩ ngợi rất nhiều về anh ta. Con người này là ai vậy? Một thằng khùng hay người có mối từ tâm lớn lao của bậc đại hiền?…

Thế rồi, một lần, mình và anh ta cùng đi lùa trâu xuống con sông gần trại cho dầm nước. Trời nóng như dội lửa. Bãi sông đầy cát và sỏi bị nóng rang bỏng như than đỏ. Trên bãi sông mọc độc một cây mủng già gốc sần sùi tán lá xác xơ trải một mảng bóng râm bằng chiếc chiếu cá nhân xuống cát và sỏi. Người lính gác ngồi trên bờ sông dốc đứng, ôm súng trú nắng dưới một lùm cây. Anh ta và mình phải ngồi trú nắng dưới gốc cây mủng, canh đàn trâu ngụp lặn dưới sông. Vì mảng bóng râm quá hẹp nên hai người gần sát lưng nhau. Anh ta bỗng lên tiếng trước, hỏi mà đầu không quay lại:

- Anh Tuân này - không rõ anh ta biết tên mình lúc nào - sống ở đây anh thèm cái gì nhất?

- Thèm được đọc sách - mình buột miệng trả lời, và chợt nghĩ, có lẽ anh ta chưa thấy một cuốn sách bao giờ, có thể anh ta cũng không biết đọc biết viết cũng nên.

- Nếu bây giờ có sách thì anh thích đọc ai? - anh ta hỏi.

- Voltaire! - một lần nữa mình lại buột miệng. Và lại nghĩ: Nói với anh ta về Voltaire thì cũng chẳng khác gì nói với gốc cây mủng mà mình đang ngồi dựa lưng. Nhưng nhu cầu được chuyện trò bộc bạch với con người nó cũng lớn như nhu cầu được ăn, được uống… Nhiều lúc chẳng cần biết có ai nghe mình, hiểu mình hay không. Đó chính là tâm trạng của anh công chức nát rượu Marmeladov bất chợt nói to lên những điều tủi hổ nung nấu trong lòng với những người vớ vẩn trong một quán rượu tồi tàn, mà Dostoievsky miêu tả trong “Tội ác và Trừng phạt”.

Anh ta ngồi bó gối, mắt không rời mặt sông loá nắng, hỏi lại:

- Trong các tác phẩm của Voltaire, anh thích nhất tác phẩm nào?

Mình sửng sốt nhìn anh ta, và tự nhiên trong đầu nảy ra một ý nghĩ kỳ lạ: một người nào khác đã ngồi thay vào chỗ anh ta… Mình lại liên tưởng đến một cậu làm việc cùng phòng hồi còn ở Đài phát thanh, tốt nghiệp đại học hẳn hoi, đọc tên nhạc sĩ Chopin (Sôpanh) là Cho Pin.

Mình trả lời anh ta:

- Tôi thích nhất là Candide.

- Anh có thích đọc Candide ngay bây giờ không?

Không đợi mình trả lời, anh ta nói tiếp:

- Không phải đọc mà nghe… Tôi sẽ đọc cho anh nghe ngay bây giờ.

Rồi anh ta cất giọng đều đều đọc nguyên bản Candide. Anh đọc chậm rãi, phát âm chuẩn và hay như mấy cha cố người Pháp, thầy dạy mình ở trường Providence. Mình trân trân nhìn cái miệng rúm ró, răng vàng khè đầy bựa của anh ta như nhìn phép lạ. Còn anh ta, mắt vẫn không rời dòng sông loá nắng, tưởng chừng như anh ta đang đọc thiên truyện Candide nguyên bản được chép lên mặt sông…

Anh đọc đến câu cuối cùng thì kẻng ở trại cũng vang lên từng hồi, báo đến giờ lùa trâu về trại. Người lính gác trên bờ cao nói vọng xuống: "Hai đứa xuống lùa trâu, nhanh lên!".

- Chúng mình lùa trâu lên bờ đi! - anh nói.

Lội ra đến giữa sông, mình hỏi anh ta:

- Anh là ai vậy?

Anh ta cỡi lên lưng một con trâu, vừa vung roi xua những con trâu khác, trả lời:

- Tôi là cái thanh ngang trên cây thập tự đóng đinh Chúa.

Rồi anh ta tiếp:

- Đừng nói với bất cứ ai chuyện vừa rồi…

Giáp mặt người lính canh, bộ mặt anh ta thay đổi hẳn - ngu ngơ, đần độn như thường ngày.

Cuối mùa đông năm đó, anh ta ngã bệnh. Nghe các trại viên kháo nhau mình mới biết.

Thằng chuyên gia khâm liệm e đi đong. Thế là nếu bọn mình ngoẻo, sẽ không còn được khâm liệm tử tế và chẳng có ai khóc tống tiễn vong hồn… - những người tù nói, giọng buồn.

Mình gặp giám thị trại, xin được thăm anh ta.

Giám thị hỏi:

- Trước kia anh có quen biết gì thằng này không?

Mình nói:

- Thưa cán bộ, không. Chúng tôi hay đi lùa trâu với nhau nên quen nhau thôi.

Giám thị đồng ý cho mình đến thăm, có lính đi kèm. Anh ta nằm cách ly trong gian lán dành cho người ốm nặng. Anh ta nằm như dán người xuống sạp nằm, hai hốc mắt sâu trũng, nhắm nghiền, chốc chốc lại lên cơn co giật…

Mình cúi xuống sát người anh ta, gọi hai ba lần, anh ta mới mở mắt, chăm chăm nhìn mình. Trên khoé môi rúm ró như thoáng một nét cười. Nước mắt mình tự nhiên trào ra rơi lã chã xuống mặt anh ta. Anh ta thè luỡi liếm mấy giọt nước mắt rớt trúng vành môi. Anh ta thều thào nói:

- Tuân ở lại, mình đi đây… Đưa bàn tay đây cho mình…

Anh ta nắm chặt bàn tay mình hồi lâu. Một tay anh ta rờ rẫm mớ giẻ rách khoác trên người, lấy ra một viên than củi, được mài tròn nhẵn như viên phấn viết. Với một sức cố gắng phi thường, anh ta dùng viên than viết vào lòng bàn tay mình một chữ nho. Chữ NHẪN.

Viết xong, anh ta hoàn toàn kiệt sức, đánh rớt viên than, và lên cơn co giật.

Người lính canh dẫn mình lên giám thị trại với bàn tay có viết chữ Nhẫn ngửa ra. Người lính canh ngờ rằng đó là một ám hiệu.

Giám thị hỏi:

- Cái hình nguệch ngoạc này có ý nghĩa gì? Anh mà không thành khẩn khai báo, tôi tống cổ anh ngay lập tức vào biệt giam.

Mình nói:

- Thưa cán bộ, thật tình tôi không rõ. Anh ta chỉ nói: tôi vẽ tặng cậu một đạo bùa để xua đuổi bệnh tật và tà khí.

Nghe ra cũng có lý, giám thị trại tha cho mình về lán…

Phùng Quán

________

Ghi Chú:

(*) THẰNG KHÙNG trong tù này là Cha Chính Vinh, tức là Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH (1912-1971), của Nhà thờ lớn Hà Nội. Bài viết của Phùng Quán đã kể lại chuyện thật những năm, những ngày cuối trong ngục tù của Ngài.

Xin mời đọc thêm (bài kèm theo dưới đây) tiểu sử của Cha Vinh để chúng ta biết thêm nhiều chi tiết về cuộc đời Ngài; và cũng để hiểu thêm gương phụng sự Chúa của Ngài….

Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH,

Cha chính Hà Nội, (1912 – 1971).

Tấm gương can trường.

Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH*

Cha Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh chào đời ngày 2 tháng 10 năm 1912 tại làng Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

Cậu Vinh, một thiếu niên vui vẻ, thông minh, có năng khiếu nghệ thuật bẩm sinh về âm nhạc, ca hát. Cậu biết kính trên, nhường dưới, trong xứ đạo, ai cũng quý yêu. Cha xứ Ngọc Lũ thời đó là Cố Hương, một cha người Pháp tên là Dépaulis giới thiệu cậu lên học tại trường Puginier Hà Nội. Năm 1928, cậu học Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên, Phú Xuyên, Hà Tây.

Năm 1930, thầy Vinh được cố Hương dẫn sang Pháp du học. Năm 1935, thầy vào Đại Chủng viện St Sulpice, Paris. Ngày 20-6-1940, thầy được thụ phong linh mục ở Limoges.

Chiến tranh thế giới xảy ra, cha Vinh phải ở lại Pháp và tiếp tục học tập.

Ngài học Văn Khoa - Triết tại Đại Học Sorbone, học sáng tác và hòa âm tại

Nhạc viện Quốc Gia. Ngài phải vừa học vừa làm. Vóc dáng nhỏ nhắn dễ thương của ngài đã làm cho nhiều người Pháp tưởng lầm ngài là phụ nữ nên cứ chào: “Bonjour Madame!”

Nhưng ẩn trong cái dáng vóc nhỏ bé đó là một tâm hồn rộng lớn, sau đôi mắt sáng là tính cương trực, dưới nụ cười là ý chí sắt son.

Sau khi tốt nghiệp cử nhân Văn Triết ở Sorbone, ngài gia nhập dòng khổ tu

Biển Đức tại Đan Viện Ste Marie.

Sau 17 năm du học, năm 1947 cha Vinh về nước, nhằm góp sức xây dựng Giáo Hội Công Giáo Việt Nam vững mạnh về mọi mặt. Khi ấy, Đức cha François Chaize - Thịnh, Bề trên Giáo phận đã bổ nhiệm ngài làm cha xứ Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Ngài xin Bề trên lập dòng Biển Đức ở Việt Nam, nhưng không thành.

Cha Vinh, dù tu học ở Pháp nhưng luôn có tinh thần yêu nước, độc lập, không nệ Pháp. Năm 1951, Nhà Thờ Lớn Hà Nội tổ chức lễ an táng cho Bernard, con trai tướng De Lattre de Tassigni. Trong thánh lễ, tướng De Lattre kiêu căng đòi đặt ghế của ông trên cung thánh và bắt chuyển ghế của Trần Văn Hữu, Thủ tướng Việt Nam xuống dưới lòng nhà thờ. Vì lòng tự trọng dân tộc, danh dự quốc gia, cha Vinh cương quyết không chịu.

Tướng De Lattre rất tức giận, gọi cha Vinh tới, đập bàn quát tháo, đe dọa. Cha Vinh cũng đập bàn, lớn tiếng đáp lại, quyết không nhượng bộ, nhưng Thủ Tướng ngại khó nên tự nguyện rút lui. Sau vụ đó, để tránh căng thẳng, Đức Cha Khuê đã chuyển cha Vinh làm giáo sư của Tiểu Chủng Viện Piô XII, phụ trách Anh văn, Pháp văn, âm nhạc, triết học; ngài khiêm tốn vâng lời. Ngài cũng giảng dạy Văn Triết ở trường Chu Văn An.

Năm 1954, Đức cha Trịnh Như Khuê cho phép cha Vinh và cha Nhân đưa chủng sinh đi Nam, nhưng cả hai đều xin ở lại sống chết với giáo phận Hà Nội, dù biết hoàn cảnh đầy khó khăn, nguy hiểm. Đức Cha Khuê bổ nhiệm ngài làm Cha Chính, kiêm Hiệu Trưởng trường Dũng Lạc.

Ngài tổ chức lớp học giáo lý cho các giới, có những linh mục trẻ thông minh, đạo đức cộng tác, như cha Nguyễn Ngọc Oánh, cha Nguyễn Minh Thông, cha Phạm Hân Quynh. Lúc đầu, lớp học được tổ chức thành nhóm nhỏ tại phòng khách Tòa Giám Mục, về sau, con số người tham dự tăng dần, lớp học được chuyển tới nhà préau, và ngồi ra cả ngoài sân. Lớp học hiệu quả rất lớn, những tín hữu khô khan trở thành đạo đức nhiệt thành, ảnh hưởng lan tới cả giới sinh viên và giáo sư đại học, nhiều người gia nhập đạo. Sau chính quyền ra lệnh ngừng hoạt động vì lý do an ninh.

Khi cha Vinh đang làm Hiệu Trưởng Dũng Lạc, Chính phủ ra chỉ thị phải treo ảnh lãnh tụ thay vào ảnh Thánh Giá ở các lớp học. Ngài không tuyên đọc chỉ thị cũng không tháo bỏ Thánh giá, nên năm 1957, trường bị đóng cửa.

Thời bấy giờ, Đại học Y khoa Hà Nội thiếu giáo sư, nên đã đề nghị Đức Cha

Khuê cử cha Vinh đến trường dạy La tinh. Nhiều sinh viên cảm phục ngài. Một hôm, Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Quốc đến thăm trường, thấy bóng dáng chiếc áo chùng thâm linh mục, ông nói với đoàn tháp tùng: “Đến giờ này mà còn có linh mục dạy ở Đại Học quốc gia ư?” Ít lâu sau trường Đại học Y khoa không mời cha dạy nữa.

Biết tài năng và kiến thức âm nhạc của ngài, nhiều nhạc sĩ ở Hà Nội tìm cha Vinh tham khảo ý kiến và nhờ xem lại những bản nhạc, bài ca họ mới viết.

Cha Vinh, một trong những nhạc sĩ tiên phong của Thánh nhạc Việt Nam, và là một nhạc sĩ toàn tài. Ngài chơi vĩ cầm và dương cầm thật tuyệt, chính ngài là người Việt Nam đầu tiên chơi vĩ cầm ở Hà Nội.

Ngài có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc, lại được học tập chu đáo nên đã sáng tác và để lại nhiều nhạc phẩm thánh ca tuyệt vời. Cha Vinh trình bày bản hợp tấu “Ở Dưới Vực Sâu” nhân cuộc đón tiếp phái đoàn Việt Nam do ông Hồ Chí Minh dẫn đầu sang dự Hội Nghị Fontainebleau năm 1946.

Ngài cộng tác với Hùng Lân sáng tác “Tôn Giáo Nhạc Kịch Đa-Vít.” Sáng tác nhiều nhạc phẩm lớn: “Mở Đường Phúc Thật,” “Tôn Vinh Thiên Chúa Ba Ngôi,” “Ôi GiaVi,” “Lạy Mừng Thánh Tử Đạo.” Ngài phổ nhạc cho các Ca Vịnh 8, Ca vịnh 16, Ca vịnh 23, Ca vịnh 41, Ca vịnh 115 và nhiều bài hát khác như Đức Mẹ Vô Nhiễm, Thánh Tâm Giêsu. Ngài còn viết những bài ca sinh hoạt: Sao Mai, Đời Người, phổ nhạc bài “Bước Tới Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan.

Hằng tuần ngài đến dạy nhạc, xướng âm và tập hát bên chủng viện Gioan. Cha Vinh có giọng nam cao, âm hưởng thanh thoát, lôi cuốn. Ngài tổ chức và chỉ huy dàn đồng ca trong nhiều cuộc lễ và rước kiệu lớn như cuộc Cung Nghinh Thánh Thể từ Hàm Long về Nhà Thờ Lớn Hà Nội.

Năm 1957, Nhà nước muốn tỏ cho dân chúng trong nước và thế giới thấy là ở Việt Nam đạo Công giáo vẫn được tự do hành đạo và tổ chức được những lễ nghi long trọng, tưng bừng. Dịp Lễ Noel, chính quyền tự động cho người đến chăng dây, kết đèn quanh Nhà Thờ Lớn, sau lễ họ vào đòi nhà xứ Hà Nội phải thanh toán một số tiền chi phí lớn về vật liệu và tiền công.

Năm 1958 cũng thế, gần đến lễ Noel, không hề hỏi han, xin phép, một số người của Nhà nước ngang nhiên đưa xe ô tô chuyển vật liệu, tự động bắc thang, chăng dây treo bóng điện màu trang trí ở mặt tiền và trên hai tháp Nhà Thờ Lớn. Cha xứ thời đó là cha Trịnh Văn Căn bảo vệ chủ quyền Giáo Hội trong khuôn viên cơ sở tôn giáo, không đồng ý, nhưng họ cứ làm. Để phản đối, cha Căn liền cho kéo chuông nhà thờ cấp báo, giáo dân kéo đến quảng trường nhà thờ rất đông ủng hộ cha xứ, hai bên to tiếng.

Cha Căn gọi Cha Vinh ra can thiệp, sau một hồi tranh luận không kết quả, cha Vinh kéo những người của Nhà nước đang leo thang chăng đèn xuống, rồi chính ngài leo lên thang, hai tay đưa cao trước mặt, hai bàn tay nắm lại, hai cườm tay đặt lên nhau, làm dấu hiệu còng tay số 8, và nói lớn:

“Tự do thế này à!”

Vụ giằng co lộn xộn kéo dài suốt buổi sáng, công cuộc trang trí không thành. Cha Căn, cha Vinh cùng một số giáo dân bị cơ quan an ninh thẩm vấn, đem ra xét xử. Tòa án Hà Nội tuyên án: Cha Trịnh Văn Căn, Chính xứ Nhà Thờ Lớn, người chịu trách nhiệm tổ chức lễ Noel năm 1958 chịu án 12 tháng tù treo.

Cha Chính Nguyễn Văn Vinh chịu án 18 tháng tù giam, với tội danh: “Vô cớ tập hợp quần chúng trái phép, phá rối trị an, cố tình vu khống, xuyên tạc chế độ, gây chia rẽ trong nhân dân” (!).

Sau phiên tòa, cha Vinh bị đưa đi giam ở Hỏa Lò, sau bị chuyển đi nhiều trại giam khác như Chợ Ngọc, Yên Bái, cuối cùng là trại “Cổng Trời”, nơi dành riêng cho các tù nhân tử tội.

Khi cha Vinh mới đến trại Yên Bái, ngài còn được ở chung với các tù nhân

khác, nhiều giáo dân, chủng sinh, tu sĩ đến xin cha giải tội, vì thế ngài bị kỷ luật, phải biệt giam, bị cùm chân trong xà lim tối. Mấy tháng sau được ra, ngài lại ban phép giải tội. Cán bộ hỏi:

“Tại sao bị cùm, bị kỷ luật, được ra, anh tiếp tục phạm quy?”

Ngài đáp:

“Cấm là việc của các ông, giải tội là việc của tôi, còn sống ngày nào, tôi phải làm bổn phận mình!”

Ở tù đói rét là đương nhiên, lúc nào cũng đói, hằng ngày mỗi bữa một bát sắn độn cơm, ăn với lá bắp cải già nấu muối, khi chia cơm phải cân đong từng chút một... Một lần cha Vinh nhận được gói bưu kiện do cha Cương, quản lý Nhà Chung Hà Nội, gửi lên, trong đó có ít thức ăn, lương khô và vài đồ dùng cá nhân, ngài đem chia sẻ cho anh em trong nhóm, cả Công giáo lẫn lương dân, ăn chung, dùng chung. Anh em tù hình sự thân thương gọi ngài là “Bố.”

Ngay trong nhà tù, cha Vinh vẫn can đảm bảo vệ người bị áp bức, có lần một tổ trưởng đánh đập tù nhân, ngài lên tiếng bênh vực, liền bị người tổ trưởng này xông đến giang tay đánh, ngài đưa tay gạt, anh ta ngã khụy. Từ đó trong trại có tiếng đồn cha Vinh giỏi võ, mọi người phải nể vì.

Một cán bộ cao cấp ở Hà Nội lên Cổng Trời gặp cha Vinh, nói: “Đảng và Chính phủ muốn anh được tha về, nhưng với điều kiện phải cộng tác với linh mục Nguyễn Thế Vịnh (Chủ tịch Ủy Ban Liên Lạc Công Giáo). Nếu anh đồng ý, anh có thể về Hà Nội ngay bây giờ với tôi”. Ngài khẳng khái đáp: “Ông Vịnh có đường lối của ông Vịnh. Tôi có đường lối của tôi”.

Vì không khuất phục được ngài, nên bản án từ 18 tháng tù giam, không qua một thủ tục pháp lý án lệnh nào, đã biến thành 12 năm tù kiên giam, xà lim, biệt giam và án tử.

Năm 1971, khi ngài từ trần không ai được biết, một năm sau, chính quyền mới báo cho Đức Cha Khuê và cha Cương quản lý Nhà Chung: “Ông Vinh đã chết. Không được làm lễ áo đỏ cho ông Vinh!”

Suốt đời mình, trong mọi tình huống cha Chính Vinh làm tròn trách vụ của mình. Ngài đã mạnh mẽ rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho đức tin, khi thuận tiện cũng như khó khăn. Vượt mọi thử thách gian khó, không chịu khuất phục trước cường quyền, luôn trung kiên với Thiên Chúa và Giáo Hội.

Cha Chính Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh là một chứng nhân của thời đại, một linh mục Công Giáo Việt Nam can trường, hậu thế kính tôn và ghi ân ngài.

TGP Hà Nội

BBT (Theo HĐGMVN)

Chủ Nhật, 9 tháng 11, 2014

Thảm cảnh của cả một đất nước, của cả một dân tộc… Don Hồ

Thảm cảnh của cả một đất nướccủa cả một dân tộc
Don Hồ(Theo Dân luận).

California, USA – Khi đang hát, sợ nhất là bị khán giả níu vai & chồm lên nói nhỏ vào tai. Chuyện này có nhiều cơ hội xảy ra khi người ca sĩ cầm microphone rời sân khấu để đi xuống bên dưới. Và tại sao “sợ” ư? Có thể bạn thắc mắc, chẳng hiểu.
- Thứ nhất: Đang mải lo trình bày một nhạc phẩm, âm thanh đang ầm ầm thì người ca sĩ làm sao có thể nghe kịp & hiểu người kia đang muốn nói gì với mình?
- Thứ hai: Nếu lắng nghe coi nói gì thì bài hát sẽ có khả năng bị khựng lại & có nhiều khả năng bị phân tâm mà quên luôn cả câu hát kế tiếp.
Không tin bạn thử vừa hát vừa lắng nghe ai nói chuyện gì đó thử xem, nếu bạn làm được cả 2 chuyện cùng lúc thì có thể bạn là siêu nhân (superman) mà không biết đấy…
Tuần rồi trong một buổi gây quĩ, ban tổ chức nhờ cầm rổ đi xuống dưới khán giả, vừa hát vừa nhận phong bì tiền ủng hộ từ những vị hảo tâm, một bác lớn tuổi đã níu vai thì thầm gì đó thì vào tai. Dĩ nhiên là đã … chẳng hiểu bác nói gì, phải nói lẹ: “Thưa, cháu chẳng nghe được gì cả! Ghế bác chỗ nào, khi hát xong cháu xin trở ra tận nơi ạ?”
Và đúng như đã hứa, hát xong phần mình vào trong lau mồ hôi xong trở lại tìm.
Được níu lại chụp hình ở một số bàn, nhưng rồi cuối cùng cũng kiếm được. Bác kéo tay bảo: “Trong này ồn quá, ra ngoài bác có tí chuyện xin nhờ đến cháu…”
Chút hồi hộp lẫn với tò mò.
Mái tóc gần như bạc phơ, nhìn bác có vẻ lớn tuổi lắm nhưng vẫn còn rất minh mẫn. Dáng người nhỏ nhắn, lịch sự, nói chuyện giọng của những người Bắc di cư giống hệt mẹ. Bác như hơi đắn đo chút rồi bắt đầu:
- “Bác xin lỗi có hơi chút đường đột, nhưng bác có chuyện này muốn nhờ đến cháu vì bác nghĩ cháu có thê có khả năng giúp được …”
- “Dạ… Bác cứ nói, nếu làm được gì cháu sẽ làm.”
- “Chuyện như thế này…”
Ánh mắt bác trở nên xa xăm, giọng trầm hẳn xuống “Bác có đứa con gái nhỏ đi vượt biên năm 1980 rồi bặt tăm tin tức. Gia đình bác nhiều năm đã nhờ rất nhiều nơi để kiếm em nhưng không có kết quả. Không biết cháu có thể giúp bác, mỗi nơi cháu đi qua để mắt kiếm dùm em?”
- “Thưa…”
Dường như bác đã lạc vào một thế giới khác, chẳng còn nghe, còn thấy gì chung quanh…
- “Em nó tên là Trần-Thị-Thanh-Lan, năm ấy em nó mới có 13 tuổi, vẫn còn láu táu lắm, tóc dài chấm vai. Gia đình bác thời ấy chỉ có khả năng cho mỗi một đứa con đi nên mới gởi gấm em đi theo gia đình người bạn quen. Cả tàu không có một tin tức trở về, chẳng biết chết sống. Nếu em nó còn, năm nay em nó tròn 47…”
Tới phiên mình bị đẩy lạc trở về cái khoảng quá khứ đầy mộng mị.
Cũng cuối năm 1980 ấy, con tàu vượt biên nhỏ xíu chật ních những người, khoang tàu xâm xấp nước biển lẫn lộn cùng chất thải từ cơ thể bấy nhiêu hành khách. Con bé tóc ngắn nằm sát bên cạnh dường như đi một mình, từ lúc đặt chân xuống ghe chẳng nghe mở miệng nói một câu. Mà mở miệng nói với ai bây giờ, cả chiếc ghe bốn mươi mấy người có mấy ai quen ai!
Con bé dường như cũng bị say sóng nặng giống hệt mình, cũng ói lên ói xuống ngay tại chỗ và cũng lả đi nằm thiêm thiếp. Một lần quay đi không kịp, con bé ói văng đầy cả vào mặt mình sát cạnh!
Biết được nó còn sống là nhờ có một lần bắt gặp ánh mắt của con bé yếu ớt dòm qua. Ánh mắt dường như muốn xin lỗi. Anh mắt thăm thẳm, lạc lõng, vướng vất nhiều tảng mây xám ngắt chiều thu. Ánh mắt đã đi theo ám ảnh mình suốt cả mươi năm đầu lúc mới tới được Hoa Kỳ…
Con bé chắc còn nhỏ lắm, cũng chỉ cỡ 12, 13 là cùng, và là người con gái đầu tiên bị thằng hải tặc ỡ trần vấn xà rông xốc cho ngồi lên, rồi chọc thẳng tay vào áo rờ rẫm mà rú lên cười!
Con bé cũng là bé gái nhỏ nhất trong nhóm phụ nữ đầu tiên bị bắt chuyền qua tàu hải tặc và chẳng bao giờ còn nghe tin.
Con bé nằm ngay sát cạnh mình mà chẳng hề biết được tên…
Giọng bà bác ngay sát tai mà như rất mơ hồ đến tự đâu đâu…
- “34 năm rồi đó cháu, biết đâu con bé tội tình của bác đang sống lưu lạc ở một nơi nào đó trên thế giới mà không có cách nào để tìm lại được gia đình. Biết đâu em nó ở đâu đó trong những thành phố cháu đi qua…”
Ôi… người mẹ tội nghiệp tìm con, đã chừng mấy năm rồi mà vẫn không vơi đi niềm hy vọng dù rất mỏng manh…
Tần ngần hỏi:
- “Thưa bác, chị ấy đã … đi từ đâu?”
Giọng 2 bác cháu đều trở nên tự lư, nhẹ như tơ tự lúc nào.
- “Ghe em nó đi từ Rạch Giá cháu…”
Một phiến đá nặng chặn nghẹn nãy giờ bỗng được nhấc lên khỏi lồng ngực, không phải con bé ấy rồi! Ghe mình đã xuất phát khời hành từ mũi Cà Mau…
- “Anh em cháu cũng vượt biên vào khoảng thời gian ấy, tụi cháu may mắn đã đến được bến bờ. Cháu … chưa biết sẽ phải làm gì, nhưng cháu sẽ ráng…”
Trao đổi nhau số phone.
Bác gái nhũ danh: Trương Thị Hoà, nhà đã ở khu Hoà Hưng Sài gòn…
Sợ bác sẽ khóc, nhưng nước mắt bác chẳng ra. Chắc những dòng nước mắt đã chảy cạn khô trong suốt ba mươi mấy năm qua rồi, chẳng còn!
Bác run run siết chặt đôi bàn tay cảm ơn, xin lỗi đã làm phiền, rồi xiêu vẹo bước trở lại vào khán phòng.
Mình ngồi thừ lại ở bên ngoài phải cho mãi một thời gian.
Lâu lắm mới buồn như thế!
Và cái buồn chắc chắn sẽ còn vương vất mãi chẳng biết đến bao giờ…
Gần 35 năm rồi, khả năng còn sống sót của người con chắc không nhiều nhưng cũng có thể… Biết đâu ở đâu ở nướcnào đó trong vùng Đông Nam Á không chừng….
Và không phải chỉ có mỗi chị Thanh-Lan này, mà còn biết bao nhiêu người con gái khác cũng mất tích, biết đâu cũng đang lưu lạc ở đâu đó…
Và nếu đúng thế, biết đâu bạn … quen, bạn biết? Biết đâu bạn có chút tin tức?
Hoặc giả nếu như không thấy phiền bạn có thể “share” dùm bài này đến bạn bè như một tờ truyền đơn nhắn tin, tìm kiếm. Biết đâu ở một mảnh đất nào đó có một người con gái cũng bao nhiêu năm mong mỏi tìm được lại gia đình củamình …
Thảm cảnh của cả một đất nướccủa cả một dân tộc
Buồn nhỉ!
Giá như mình có thể khóc được…

Ca sĩ DON HỒ

Chủ Nhật, 26 tháng 10, 2014

NGƯỜI YÊU DƯƠNG THẾ ( Phạm Gia Đại )



NGƯỜI YÊU DƯƠNG THẾ


Phạm Gia Đại




(Câu chuyện tình thuộc loại Liêu Trai Chí Dị "Yêu Người Dương Thế" được trích đăng từ Chương Mười trong cuốn Hồi Ký "Những Người Tù Cuối Cùng" của tác giả Phạm Gia Đại.)

Thật khó mà diễn tả cho hết được cái vẻ đẹp của mùa Thu trên đất Bắc. Nó mong manh như sương khói, yểu điệu như nàng thục nữ ngồi ngắm bóng mình bên hồ Sen, bàng bạc như quyện vào từng chiếc lá vàng rơi rơi bay bay theo từng cơn gió chiều nhè nhẹ đìu hiu trên con đường làng quê nghèo mộc mạc.

Bởi thế, mùa Thu đã tạo nên nguồn cảm hứng cho bao nhiêu văn nhân thi sĩ sáng tác ra bao nhiêu áng thơ tuyệt tác cùng những truyện tình lãng mạn làm cho lòng chúng ta không khỏi thổn thức mỗi độ Thu về.

Đúng vậy mùa Thu đã về rồi đó, riêng đối với những người tù thì mùa Thu là một mùa không phải là đẹp nhất trong năm nhưng là một khoảng thời gian mà thời tiết mát mẻ dễ chịu nhất sau ba tháng Hè nóng như nung người trong lò lửa. Đây cũng là thời gian mà anh em chúng tôi lấy lại được một phần sức khỏe để dự trữ và chuẩn bị chống đỡ lại sự tấn công đáng sợ của cái lạnh kinh người cho một mùa Đông nữa sắp đến.

Thời gian này chúng tôi thích nhất vì như được tắm mình trong một vùng không gian bao la mát rượi xen lẫn ít cái se se lạnh báo hiệu của một mùa Đông. Ban đêm cũng chỉ cần đắp cái chăn ngang bụng và dễ đi vào giấc ngủ sau một ngày mệt nhọc.

Mùa Xuân cũng đem đến cho người tù một khoảng thời gian ấm áp sau những đêm Đông lạnh giá, nhưng có lẽ không có mùa nào trong năm lại gây nhiều nhung nhớ sâu đậm như mùa Thu nơi xứ Bắc, nhất là khi khoác trên người bộ áo tù nhưng mắt thì vẫn dõi theo những cụm mây trôi dần trôi dần về phía chân trời vô định.

Chúng tôi đang chia ra thành từng toán nhỏ năm bẩy người để cùng đạp đất. Tôi vào cùng nhóm với các anh cấp Đại Úy như anh Trung Pháo binh, anh Thế, Cảnh, Tâm, Châu vừa lao động vừa kể lại chuyện ngày xưa để giết thời gian và cũng để quên đi cái hiện tại nhọc nhằn. Mỗi người một câu chuyện trò rôm rả và chúng tôi như tìm được những nụ cười hiếm hoi lẫn trong những giọt mồ hôi vất vả, dù là trời đã sang Thu. Tôi nhìn các anh và chợt có ý kiến là mỗi người sẽ kể về mình một câu chuyện tình. Mỗi ngày một người được làm "máy" tức là đóng vai máy quay phim "chiếu" lại một khúc phim tình nào đó mà mình từng đóng vai chính. Thế là tôi được nghe những câu chuyện tình thật đẹp thật và ngộ nghĩnh của các bạn mình, được dịp thả hồn mình đi mơ mộng theo từng tình tiết của câu chuyện hay bật ra những tràng cười thoải mái về những sự ngây ngô của mình khi mới bước chân vào tình yêu của thời sinh viên mới lớn lên tại Sàigòn hay trong quân ngũ.

Qua đi gần hết một vòng, người cuối là anh Trung, dáng anh nhỏ người da ngăm đen, tính tình thật hiền lành và dễ mến của người miền Nam, nhưng cười rất có duyên và cách kể chuyện của anh lại hấp dẫn nhất trong nhóm.

Anh Trung nhìn tụi tôi rồi nói hơi tếu một chút:

- Tui chẳng có chuyện gì để kể hết à! Đi lính quen bà xã rồi lấy nhau vậy thôi, hổng có gì nữa để kể. Vậy là hết.

Dĩ nhiên là mọi người đều không chịu một câu chuyện quá ngắn và có vẻ chạy làng như vậy cho nên cuối cùng không tránh né được, anh Trung đề nghị là để đền bù, anh sẽ kể một câu chuyện có thật nhưng rất kỳ lạ và đầy bí ẩn của một người bạn của anh vừa mới xẩy ra trước khi anh chuyển trại về đây, mà chính anh cũng không biết đoạn kết của câu chuyện tình này sẽ ra sao nữa.

Giọng anh trầm trầm hẳn xuống và ngay lập tức tụi tôi bị cuốn hút vào câu truyện đầy tính liêu trai này...

... "Buổi sáng hôm ấy sương mù dày đặc trắng xóa cả bầu trời, hình như mây mù từ những nơi khác trong lòng thung lũng đều kéo nhau tụ cả về đây. Những ngọn núi chung quanh khu vực liên trại Hoàng Liên Sơn này cũng chỉ ẩn hiện mờ mờ trong một mầu trắng đục.

"Cách xa chỉ năm thước cũng không nhìn thấy được mặt người. Cảnh vật nhạt nhòa trong sương khói như làm cho bầu không khí thêm phần ảm đạm, làm tăng thêm cái rét căm căm của mùa Đông miền Bắc. Cái lạnh thì xuyên thấu qua từng chiếc áo rằn ri mầu hoa rừng, qua luôn lớp áo lót bên trong và thấm vào từng sớ thịt của những sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, người tù chính trị trong trại giam cộng sản. Vì sương mù nếu xuất trại ra lao động có thể tù dễ trốn trại cho nên tất cả chúng tôi được lệnh ở lại trong trại sáng hôm đó.

"Chẳng ai bảo ai chúng tôi đều vào buồng, leo lên chỗ nằm ngả lưng xuống nghỉ ngơi cho khỏe hoặc nấu ít trà nóng uống cho đỡ lạnh. Mỗi khi mà được nghỉ lao động là đều có lý do nếu không vì sương mù như hôm nay thì hoặc là mưa quá lớn, hay có thể là chuẩn bị di chuyển trại giam, hay là cái gì nữa không đoán trước được. Bởi vậy người tù lúc nào cũng phải chuẩn bị tinh thần cho những gì xấu nhất có thể xẩy tới cho mình bất kỳ lúc nào, tuy trong lòng luôn cầu nguyện những gì tốt đẹp nhất sẽ đến.

"Khoảng một tiếng đồng hồ sau bỗng có hàng loạt bộ đội vào sân trại ra lệnh cho tất cả tù nhân đem hết tư trang ra ngoài sân để khám xét. Cái điều khó chịu ấy cứ sáu tháng lại tái diễn một lần và họ lựa đúng vào những dịp tù được nghỉ lao động để khám xét mục đích không cho chúng tôi được nhiều thời gian riêng cho mình và đưa chúng tôi vào tình thế luôn bị động.

"Mục đích của khám xét để xem tù nhân có tàng trữ những gì trái với nội quy của trại không như vật nhọn, muối, tiền mặt, kinh sách tôn giáo, "nhạc vàng"?

"Mỗi lần như vậy Trung nhận thấy mình lại mất đi một vài thứ, lúc thì cái muỗng bằng bạc dùng để ăn cơm, lúc thì con dao cùn dùng để cạo râu. Còn những thứ thực sự có giá trị như đồng hồ, nhẫn vàng, tiền mặt ngay từ lúc đầu bước chân vào trại giam họ đã tịch thu dưới danh nghĩa là trại "quản lý" dùm cho các anh khi nào được tha về sẽ trả lại. Mỗi lần như vậy, đám cán binh và đám bộ đội trực trại khám thật kỹ từng người một, từ cái lai quần đến ve áo trên người cho đến chăn mền quần áo, từng chỗ nằm của mỗi người ngay cả vết nứt trên tường.

"Trung khoanh tay đứng nhìn một cách hờ hững vì anh chẳng còn gì để bọn họ tịch thu nữa mà phải lo nghĩ, bên cạnh anh các bạn cũng từ từ cuốn chiếc chiếu lại đem vào buồng giam.

"Vừa cuốn chiếc chiếu Trung vừa nhìn qua Tuấn, người bạn bên cạnh anh đang bị tên trực trại hạch hỏi về chiếc dây chuyền kết bằng những sợi chỉ ngũ sắc bện với nhau rất đẹp mà Tuấn đang đeo trên cổ.

"Tuấn cố giải thích đó là kỷ vật của gia đình nhưng tên bộ đội còn trẻ măng vẫn không nghe, nhất định tịch thu sợi dây chuyền ngũ sắc ấy của anh. Có thể mỗi đợt kiểm tra như thế này xong bọn chúng phải tìm nộp cho cấp trên một số tang vật bất cứ thứ gì của người tù để lập công cho nên chúng cố tịch thu càng nhiều càng tốt.

"Ngày hôm sau trên đường đi lao động vào rừng đốn gỗ cho trại Trung thấy Tuấn lộ vẻ đăm chiêu và lo lắng không yên nên anh hỏi:

"- Sao thấy cậu có vẻ lo lắng chuyện gì thì phải?

"- Ừ! Đêm qua mình lại nằm mơ thấy bà xã của mình, bà ấy khóc quá nói là mấy năm nay đi tìm kiếm mình khắp nơi mà không gặp.

"- Ủa! Mình tưởng là cậu còn độc thân chứ? Nhưng như vậy cũng là vui rồi, không gặp được người thực ở ngoài đời thì gặp người trong mộng cũng là vui và an ủi rồi còn gì?

"- Không phải vậy đâu! Mình vẫn còn độc thân nhưng bà ấy là bà xã trong mộng của mình mà thôi nhưng câu chuyện dài lắm để mình kể cho cậu nghe...

"Thế rồi Tuấn từ từ kể lại cho Trung nghe về cuộc đời và mối tình kỳ lạ của mình ngày còn trong quân ngũ.

"…Thời gian ấy sau cuộc tổng tấn công của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa qua Kampuchia phá hủy hầu hết các căn cứ hậu cần của Việt Cộngquân Bắc Việt tại Kompong Cham, Kompong Sap, Kratie, đơn vị của Tuấn tháp tùng sư đoàn trở về vùng đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam trong chiến thắng oai hùng và Tuấn được thăng cấp Trung Úy. Sau đó đơn vị của Tuấn được lệnh đi hành quân tảo thanh diệt địch, tạm thời trú đóng bên cạnh một con sông nước trong vắt với hàng dừa xanh thật là thơ mộng.

"Rồi một hôm, một biến cố đã xảy ra trong một ngày định mệnh làm đảo lộn hết cả cuộc đời binh nghiệp của anh.

"Hôm đó, đơn vị Tuấn dừng lại đóng quân cạnh một làng nhỏ nằm ven sông thì binh lính dưới quyền báo tin có một xác thiếu nữ trôi sông vừa dạt vào bờ. Tuấn vội chạy ra xem, anh thấy một thiếu nữ tuổi chừng mười tám hai mươi tuyệt đẹp trong chiếc áo dài màu trắng nữ sinh, làn tóc thề lòa xòa che mất một phần của khuôn mặt trái xoan, nằm mấp mé bờ sông, nàng chết mà như đang trong giấc ngủ, có vẻ đẹp quí phái của con người tỉnh thành chứ không phải thôn dã.

"Anh ra lệnh cho binh sĩ khiêng nàng lên bờ và cho lính vào trong làng hỏi thăm xem có ai biết tông tích người con gái này ra sao để báo tin cho gia đình nạn nhân đem về mai táng. Anh buột miệng khen một câu:

"- Người đẹp như vậy mà chết uổng quá! Giá mà còn sống lấy mình thì thật là đẹp đôi.

"Không biết có phải vào giờ linh hay nàng sống khôn chết thiêng hay sao, ngay tối hôm đó Tuấn nằm mơ thấy nàng hiện về và hai người bắt đầu quen nhau. Kể từ hôm đó, hễ đặt lưng nằm xuống Tuấn lại thấy nàng hiện ra ngay trong giấc mộng trong suốt chặng đường hành quân của anh hay khi về phép y như một đôi tình nhân vừa quen nhau trong một khung cảnh hệt như thương xá Tax và hàng quán phố phường trên đường Lê Lợi tại Sàigòn vậy. Giấc mơ này nói tiếp giấc mơ kia y như những chương trong một cuốn tiểu thuyết lồng trong một mối tình thật nên thơ lãng mạn.

"Anh đặt tên cho nàng Mộng Điệp, anh mơ thấy mình mặc quân phục về phép Sàigòn, tình cờ gặp nàng rồi làm quen trên đường nàng đi học về trong tà áo nữ sinh tha thướt. Ai đi ngang qua cũng trầm trồ là hai người thật đẹp đôi.

"Những ngày sau, anh lái xe gắn máy đến trường đón nàng mỗi khi tan học, hai người chở nhau đi chơi, đi xem xi nê, ăn uống và chở nàng về nhà của mẹ nàng bên cầu Thị Nghè.

"Tình yêu nảy nở lúc nào không hay giữa trai tài gái sắc, hai người trao nhau nụ hôn đầu tiên trong vườn Bách Thảo rồi bàn tính chuyện hôn nhân. Anh rất mừng là mẹ nàng cũng tán thành và tác hợp cho đôi lứa.

"Anh mơ thấy mình tổ chức đám cưới với Mộng Điệp. Đám cưới thật vui với đầy đủ lễ nghi đón dâu, đãi tiệc tại nhà hàng có cả xác pháo hồng và áo cưới cho cô dâu về nhà chồng.

"Lúc đó tại thị xã nơi đơn vị Tuấn đóng quân, các cô bán hàng mỹ phẩm, quần áo phụ nữ rất ngạc nhiên khi thấy Trung Úy Tuấn thường đến cửa hiệu của họ mua những quần áo kể cả đồ lót cho phụ nữ và đồ trang sức nữa. Ở cái thị xã nhỏ như vậy ai cũng biết chàng trung úy đẹp trai anh hùng này vẫn còn độc thân nhưng mỗi khi các cô hỏi chàng mua tặng cho ai, Tuấn chỉ cười lắc đầu chứ không trả lời.

"Rồi chiến trận lan tràn khắp nơi trên quê hương miền Nam, Tuấn bị cuốn hút vào cuộc chiến không có thì giờ để nghĩ đến một chuyện gì khác nữa ngoài những cuộc hành quân liên miên diệt trừ cộng phỉ. Nhìn những xóm làng nằm trong vùng "xôi đậu" bị Việt Cộng thiêu rụi với những xác dân lành vô tội bị giết vì đã không theo chúng, hay những cây cầu đoạn đường bị phá hoại mà Tuấn không khỏi uất hận bọn cộng nô và bùi ngùi cho đất nước đau thương của mình.

"Cuộc sống hạnh phúc của vợ chồng Tuấn và Mộng Điệp kéo dài thật êm đêm trong những giấc mộng nối tiếp nhau suốt một năm trời như vậy trong từng giấc ngủ cho đến một hôm một nhân vật huyền bí khác xuất hiện làm thay đổi hẳn đời sống của chàng sĩ quan trẻ.

"Một ngày thật đặc biệt với Tuấn, hôm đó sau cuộc hành quân truy lùng diệt địch thật vất vả gian nguy trong vùng sình lầy của đồng bằng sông Cửu Long, đơn vị của Tuấn di chuyển ngang qua một ngôi làng rất nhỏ có lẽ chỉ vài chục nóc nhà tranh. Anh thấy một cụ già đang đứng trước ngôi làng như đang chờ đợi ai. Khi anh đi tới bất ngờ cụ bước ra nói với các binh sĩ là muốn gặp anh.

"Tuấn cho đại đội dừng quân lại, phát cho dân làng một số thực phẩm khô, đồ hộp Quân Tiếp Vụ mà đơn vị anh mang theo và anh đi theo bà cụ vào trong làng.

"Vừa bước chân vào ngôi nhà tranh của bà cụ, Tuấn rất ngạc nhiên vì hình như bà cụ đã biết anh từ trước. Cụ bà tuy đã luống tuổi nhưng trông còn tinh anh và nhanh nhẹn. Cụ nói rất từ tốn rằng tối hôm qua cụ nằm mộng thấy một ông già râu tóc bạc phơ báo cho cụ bà ngày hôm nay ra đón anh sẽ hành quân qua làng, và phải lo chữa bệnh cho anh. Bà cụ nói rằng anh đang bị ám khí rất nặng, nếu không chữa trị kịp thời có thể nguy hiểm đến tính mạng. Anh thường hay làm những điều phước thiện giúp đỡ binh lính và dân chúng cho nên cụ được lệnh phải cứu giúp anh.

"Mới đầu Tuấn không hiểu nhưng sau anh chợt nhớ ra người vợ Mộng Điệp của mình và kể cho bà cụ nghe từ đầu đến cuối câu chuyện. Bà cụ trầm ngâm một lúc rồi nói rằng rất may anh gặp được cụ, cụ có thể chữa bệnh ma ám này cho anh vì anh đang nhuốm bệnh suốt hơn năm qua mà không hay. Lúc này Tuấn mới hiểu rằng tại sao sức khỏe của anh sa sút da mặt xanh hẳn đi như người bị mất máu, trước kia anh cứ nghĩ vì các cuộc hành quân gian khổ. Hóa ra cuộc tình giống như truyện trong Liêu Trai Chí Dị mà anh đã đọc hồi xưa đã tàn phá sức khỏe của anh trông thấy.

"Bà cụ lấy một chén nước sắc bằng những lá rừng, làm phép trên đó, để lên một cái bàn thờ nhỏ trong nhà thắp một nén nhang, bảo anh uống chén nước đó. Xong rồi, cụ cho anh một cái sợi dây chuyền bện bằng những sợi chỉ ngũ sắc rất đẹp và bảo anh là luôn luôn phải đeo trên cổ không được xa rời thì người vợ ma kia sẽ không còn hại anh   được nữa.

"Điều lạ lùng kể từ ngày anh đeo sợi dây chuyền ngũ sắc trên cổ, anh không còn gặp lại người vợ trong mộng nữa. Không những thế, hình như sợi dây chuyền này cũng che chở và đem may mắn cho anh trước lằn tên mũi đạn của quân thù.

"Thời gian thấm thoát thoi đưa cho đến một hôm anh chợt nhớ đến vị ân nhân của mình khi hành quân gần ngôi làng cũ và ghé vào thăm bà cụ ngày trước đã cứu mạng cho anh. Khi gặp lại thì cụ rất là vui mừng y như người mẹ gặp lại đứa con còn an lành sau những ngày tháng hành quân    gian khổ.

"Cụ kể cho anh nghe một câu chuyện anh cũng không tin vào tai mình nữa. Khoảng vài tuần trước, cụ đi qua chợ phiên làng bên, bất thình lình một người đàn bà mặt mày đỏ gay xông lại xỉa xói chỉ tay lung tung vào mặt cụ còn xấn xổ tính hành hung cụ nữa, và bảo rằng cụ đã cướp người chồng của chị ta. Cụ đã biết người phụ nữ bị ma nhập đó là ai rồi nên cụ rút cái cây roi mây trong giỏ ra, bảo chị ta không được hỗn nếu không cụ sẽ bắt nhốt vào trong cái giỏ này. Nghe thấy vậy, người đàn bà kia chợt thụt lui, không còn la hét nữa rồi cúi đầu cum cúp rảo bước đi mất ra khỏi chợ.

"Cụ hỏi anh có biết người phụ nữ đó là ai không. Cụ nói ngay với anh rằng chính người vợ trong mộng của anh đã nhập vào người đàn bà đó để làm dữ với cụ vì cụ đã làm phép cho anh không còn bị ma ám nữa nên chị kia đã không tìm thấy anh.

"Những năm tháng sau đó khói lửa khắp nơi, người Sàigòn bắt đầu làm quen với những địa danh như Tống Lê Chân, Khe Sanh, Mùa Hè Đỏ Lửa tại Quảng Trị, Đông Hà, An Lộc Tử Thủ, Đại Lộ Kinh Hoàng với hàng ngàn đạn pháo của quân Bắc Việt dọc theo Quốc Lộ 1 đã tàn sát bao nhiêu thường dân vô tội và gia đình của họ khi di tản từ miền Trung vào miền Nam lánh nạn. Đơn vị của Tuấn đã liên tiếp chiến thắng lẫy lừng đem lại niềm hãnh diện cho Trung Đoàn và được Trung Đoàn khao quân và tưởng thưởng nhiều huy chương cao quí của quân đội.

"Một điều bất hạnh cho người Quốc Gia là đồng minh Hoa Kỳ đã quyết định bỏ rơi họ đơn độc chiến đấu trong tình trạng thiếu súng đạn nhiên liệu trước một kẻ thù hung hãn khát máu đang được yểm trợ đắc lực bởi Nga Sô, Trung Cộng và khối Đông Âu.

"Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa một quân đội anh hùng đã vì thế mà mất đi dần ưu thế trên chiến trường. Chiến đấu cơ không còn đủ xăng nhớt để hoàn thành những phi vụ, pháo binh cũng không còn đạn pháo để yểm trợ cho quân bạn như xưa nữa và điều gì phải đến đã đến.

"Ngày 30 Tháng Tư năm 1975, Miền Nam sụp đổ rơi vào tay cộng sản. Tuấn cũng như hàng triệu quân dân cán chính khác của chế độ Việt Nam Cộng Hòa sa chân vào chốn lao tù. Sau những lần chuyển trại trên đất Bắc, tình cờ Tuấn gặp lại người bạn thân năm xưa cũng sư đoàn là Trung pháo binh.

"Tuấn ngừng một chút rồi tâm sự: "Kể từ ngày họ tịch thu sợi dây chuyền ngũ sắc của mình, ngay ngày hôm sau lên rừng đốn củi tự dưng mình thấy buồn ngủ ríu cả mắt lại và ngồi tựa gốc cây ngủ lúc nào không hay. Chỉ một lát sau mình thấy ngay người vợ trong mộng hiện ra, nàng khóc lóc ôm lấy mình nói rằng mấy năm nay nàng đã đi tìm mình khắp nơi mà không gặp, một điều bất ngờ nàng nói rằng đã có một đứa con hai tuổi với mình và ôm con sống trong cô đơn suốt mấy năm nay."

"Trung nhìn sững bạn anh, nếu không phải người bạn thân đích thực kể cho nghe, chắc anh sẽ không tin câu chuyện này có thực của một người cõi âm đã đem lòng yêu thương một người trên dương thế là bạn của anh; người nữ này đã lặn lội từ Nam ra Bắc ôm con đi tìm chồng như người chinh phụ ngày xưa.

Cuộc đời vẫn luôn xoay vần, Trung những tưởng là mình sẽ chết và chôn vùi trong xó núi rừng miền Bắc nhưng vì quân Bắc Việt tấn công qua Kampuchia và Trung Cộng đánh qua sáu tỉnh miền Bắc, nên anh và những bạn tù được di chuyển từ các liên trại Hoàng Liên Sơn về các trại giam khác ở miền trung du vào cuối năm 1978.

Nhưng Trung và Tuấn sau lần chuyển trại bị tách ra về hai nơi khác nhau, không còn gặp nữa.

Những năm sau Trung không được tin tức gì nữa về Tuấn, không biết bạn mình lưu lạc phương nào, có được trả tự do chưa hay đã vì mất sợi dây chuyền hộ mạng nên cũng đã chết theo người vợ cõi âm nặng lòng với mối tình yêu người dương thế? Trung kể chuyện một cách say sưa với nhiều tình tiết từ đầu đến cuối. Khi anh kết thúc rồi tôi vẫn còn ngẩn ngơ về một mối tình liêu trai đầy lãng mạn xen lẫn nét huyền bí của bà cụ giải bệnh ma ám cho Trung Úy Tuấn.

Năm 1983, từ trại Hà Tây anh Trung cùng một số lớn tù nhân được di chuyển vào trong Nam. Còn tôi cùng với số tù nhân còn lại trong đó có các thầy và các vị mục sư, linh mục di chuyển về trại Ba Sao Nam Hà.

Từ đó tôi mất liên lạc với anh Trung pháo binh nên không biết khi vào trong Nam anh có gập lại nhân vật chính trong truyện. Nhưng tôi vẫn không bao giờ quên được câu chuyện đầy kỳ bí huyền hoặc và mối tình tha thiết của người nữ sinh xấu số nặng lòng yêu người dương thế.